
Lấy người dân làm trung tâm chuyển đổi số
Tại cuộc họp với Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Phan Thăng An nhấn mạnh chuyển đổi số là phương tiện, công cụ; quản lý và lãnh đạo hiệu quả là mục tiêu; lấy nhân dân, doanh nghiệp làm trung tâm thụ hưởng. Mọi nhiệm vụ chuyển đổi số phải được đo lường bằng hiệu quả thực chất, bằng mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp thay vì dừng lại ở số lượng nhiệm vụ đã hoàn thành. Định hướng này được tỉnh quán triệt trong quá trình triển khai các nhiệm vụ phát triển công dân số trên địa bàn.
Tỉnh tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách, cải cách thủ tục hành chính và mở rộng các tiện ích số phục vụ người dân. Các cơ quan chức năng rà soát, tham mưu ban hành nhiều cơ chế, chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nổi bật là Nghị quyết số 18/2025/NQ-HĐND về đầu tư, mua sắm, thuê dịch vụ công nghệ thông tin và Nghị quyết số 31/2025/NQ-HĐND quy định mức thu phí, lệ phí khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến. Những chính sách này góp phần tạo điều kiện để người dân tiếp cận các dịch vụ số thuận lợi hơn.
Cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số tiếp tục tạo nhiều chuyển biến tích cực. Đến nay, 100% thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương, tương đương 1.841/1.841 thủ tục được thực hiện không phụ thuộc địa giới hành chính. Người dân có thể nộp hồ sơ và nhận kết quả ở bất kỳ nơi nào trong tỉnh, không bị giới hạn bởi nơi cư trú. Việc phát triển tài khoản định danh điện tử VNeID được đẩy mạnh, trở thành “chìa khóa số” giúp người dân thực hiện nhiều thủ tục hành chính và giao dịch điện tử. 6 tháng năm 2026, toàn tỉnh tiếp nhận và giải quyết 1.539 hồ sơ cấp Phiếu lý lịch tư pháp, trong đó 1.389 hồ sơ được thực hiện qua ứng dụng VNeID, chiếm hơn 90%. Tỷ lệ số hóa hồ sơ và kết quả giải quyết thủ tục hành chính đạt 86,87%; tỷ lệ cấp kết quả điện tử đạt 86,94%; tỷ lệ tái sử dụng dữ liệu số hóa đạt 80,62%; tỷ lệ hồ sơ thanh toán trực tuyến đạt 62,54%. Tỷ lệ hài lòng của người dân và doanh nghiệp trong giải quyết thủ tục hành chính đạt 90,36%.
Khơi thông nguồn lực từ dữ liệu và hạ tầng số
Dữ liệu và hạ tầng số là 2 "điểm nghẽn" cần tập trung tháo gỡ để chuyển đổi số phát huy hiệu quả thực chất. Trong đó, dữ liệu phải được xây dựng theo hướng “đúng, đủ, sạch, sống”, phục vụ trực tiếp công tác quản lý, điều hành và nhu cầu của người dân.
Tỉnh tập trung làm sạch, chuẩn hóa và kết nối dữ liệu chuyên ngành với các cơ sở dữ liệu quốc gia. Bảo hiểm xã hội tỉnh đồng bộ, xác thực đúng thông tin của 531.266/531.697 người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đạt 99,9%. Ngành nội vụ cập nhật 22.343 hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức lên cơ sở dữ liệu quốc gia. Trong lĩnh vực y tế, toàn tỉnh tích hợp 226.214 sổ sức khỏe điện tử trên ứng dụng VNeID, tương đương khoảng 40% dân số thường trú. Công tác làm sạch dữ liệu dân cư được triển khai quyết liệt với hàng trăm nghìn trường hợp được rà soát, bổ sung, chuẩn hóa thông tin. Riêng nhóm dữ liệu liên quan đến đăng ký thường trú đã xử lý 15.667 trường hợp người khai tử nhưng chưa được xóa đăng ký thường trú, góp phần nâng cao chất lượng dữ liệu dùng chung của tỉnh.
Cùng với dữ liệu, hạ tầng số được quan tâm đầu tư. Hiện toàn tỉnh có 1.604 vị trí cột, nhà trạm BTS; tỷ lệ phủ sóng thông tin di động đạt gần 99%; 288 trạm phát sóng 5G được triển khai; số thôn, xóm “trắng sóng”, “lõm sóng” giảm mạnh từ 169 điểm xuống còn 45 điểm. Các doanh nghiệp viễn thông huy động tối đa nguồn lực xã hội hóa để xóa bỏ hoàn toàn 45 điểm lõm sóng còn lại. Thanh toán số dần trở thành thói quen của người dân. Tỷ lệ thủ tục hành chính có phát sinh giao dịch thanh toán trực tuyến đạt 69,14%; tỷ lệ hồ sơ thanh toán trực tuyến đạt 62,54%. Kết quả này tạo tiền đề mở rộng các dịch vụ tài chính số, thương mại điện tử và tiện ích số trong đời sống.

Xây dựng công dân số an toàn, thích ứng và sáng tạo
Phát triển công dân số không dừng ở việc cung cấp hạ tầng hay dịch vụ số mà còn gắn với trang bị kỹ năng số, khả năng thích ứng và bảo đảm an toàn cho người dân trên môi trường mạng. Thực hiện phong trào “Bình dân học vụ số”, các địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt và các nền tảng số phục vụ đời sống. Đến nay, toàn tỉnh kiện toàn 1.431 Tổ công nghệ số cộng đồng với 12.151 thành viên. Đây là lực lượng nòng cốt trực tiếp hỗ trợ người dân tiếp cận công nghệ theo phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, hướng dẫn từng người”.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số được chú trọng. Năm 2025, tỉnh tổ chức 43 lớp tập huấn kỹ năng số cho 1.535 cán bộ, công chức, viên chức. Năm 2026 triển khai 25 lớp đào tạo về kỹ năng số, dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo; đến nay hoàn thành 15 lớp. Công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng được quan tâm. Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính duy trì kết nối ổn định với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, bảo đảm an toàn trong khai thác, sử dụng dữ liệu. Tỷ lệ trao đổi văn bản điện tử có ký số trên hệ thống quản lý văn bản và điều hành đạt 97%; cấp 12.249 chứng thư số cho cơ quan, tổ chức và cá nhân phục vụ hoạt động trên môi trường số.
Hiện tỉnh triển khai và đưa vào vận hành Phần mềm đánh giá hiệu quả công việc (KPI). Đây là giải pháp góp phần đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng suất lao động, bảo đảm tính minh bạch, khách quan trong đánh giá cán bộ, hướng tới xây dựng chính quyền số hiện đại, hiệu quả.
Với quyết tâm chính trị cao cùng những kết quả bước đầu tích cực, Cao Bằng đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu xây dựng công dân số toàn diện. Mỗi người dân được trang bị kỹ năng số, sử dụng dịch vụ số an toàn, hiệu quả sẽ trở thành hạt nhân thúc đẩy quá trình chuyển đổi số, góp phần xây dựng chính quyền số, xã hội số và nền kinh tế số phát triển bền vững trên địa bàn tỉnh.
Nguồn tin: Báo Cao Bằng điện tử::
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn